Bạn thấy giao diện mới thế nào



Biểu quyết  Xem kết quả

Nông dân với pháp luật

Tóm tắt những điểm mới có lợi cho người lao động trong Luật Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm xã hội tự nguyện, Bảo hiểm y tế


Ngày cập nhật: 02/11/2017 8:22:37 SA

 

 

Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) được Quốc hội thông qua ngày 28/6/2006 đã đánh dấu sự phát triển quan trọng của ngành BHXH Việt Nam, tạo tiền đề cho việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH tới mọi người lao động, góp phần thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội. Tuy nhiên, qua hơn 6 năm thực hiện, có nhiều nội dung của Luật BHXH 2006 không còn phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội, vì vậy, ngày 20/11/2014 Quốc hội đã thông qua Luật Bảo hiểm xã hội (Luật số 58/2014/QH13 gọi tắt là Luật BHXH 2014), có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2016 thay thế Luật BHXH 2006. Có thể nói, Luật BHXH 2014 ra đời đã khắc phục được nhiều điểm bất cập trong Luật BHXH 2006, đặc biệt, sự thay đổi quy định trong các chế độ trợ cấp của BHXH bắt buộc được nhiều chuyên gia đánh giá là sự thay đổi có lợi cho người lao động.

1. Luật bảo hiểm xã hội mới nhất – Luật BHXH số 58/2014/QH13

Thứ nhấtvề đối tượng tham gia BHXH

Mở rộng đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc: theo quy định của Luật BHXH 2006, người lao động tham gia BHXH bắt buộc là công dân Việt Nam, làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên. Theo đó, người làm việc theo hợp đồng lao động thời hạn dưới 3 tháng và lao động tự do không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Để mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, Luật BHXH 2014 quy định thêm ba nhóm đối tượng như sau:

+ Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 3 tháng, áp dụng từ ngày 1/1/2018;

+ Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2018;

+ Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, phường, thị trấn.

Như vậy, theo Luật BHXH 2014, đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đã bao phủ gần như toàn bộ người lao động có quan hệ lao động.

Thứ hai, về các chế độ BHXH

Chế độ ốm đau: thay đổi cách tính trợ cấp ốm đau một ngày bằng mức trợ cấp ốm đau một tháng chia cho 24 ngày (ngày làm việc), trước đây quy định trong Luật BHXH năm 2006 là chia cho 26 ngày. Việc tính bình quân 24 ngày làm việc trong một tháng của chế độ trợ cấp ốm đau vừa phù hợp với người lao động làm việc ở khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, đồng thời còn đảm bảo quyền lợi cho người lao động nói chung.

Chế độ thai sản: Nới lỏng điều kiện hưởng chế độ thai sản khi sinh con đối với người mẹ khi mang thai phải nghỉ dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám chữa bệnh có thẩm quyền.Trước đây, theo Luật BHXH 2006, đối tượng này cần đóng BHXH đủ 6 tháng trở lên trong khoảng thời gian 12 tháng trước khi sinh thì nay chỉ cần có thời gian đóng BHXH đủ 3 tháng trong vòng 12 tháng trước khi sinh.

+ Quy định thêm trường hợp lao động nam đóng BHXH được nghỉ hưởng trợ cấp thai sản khi vợ sinh con, điều này phù hợp với nhu cầu của lao động nam.

+ Bổ sung quy định về thời gian nghỉ hưởng trợ cấp thai sản đối với người mang thai hộ, người nhờ mang thai hộ, người nhận nuôi con nuôi sơ sinh.

+ Thay đổi cách tính trợ cấp thai sản theo ngày đối với những trường hợp thời gian nghỉ tính theo ngày như khám thai, sảy thai, nạo thai, đặt vòng, triệt sản. Mức trợ cấp một ngày bằng mức trợ cấp một tháng chia cho 24 ngày giống như ở chế độ ốm đau.

+ Thay đổi mức nghỉ dưỡng sức và phục hồi sức khỏe sau thời gian nghỉ ốm đau, thai sản, chỉ có một mức hưởng là 30% tiền lương cơ sở một ngày, thay vì có hai mức 25% tiền lương tối thiểu và 40% tiền lương tối thiểu một ngày tương ứng với nghỉ dưỡng sức tại nhà và nghỉ tại các cơ sở tập trung.

Chế độ hưu trí:

+ Điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng: nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi, có đủ từ 20 năm đóng BHXH trở lên và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, từ 1/1/2016 được chia thành hai nhóm, nhóm thứ nhất nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì nam đủ 51 tuổi, nữ đủ 46 tuổi, sau đó mỗi năm tăng thêm một tuổi cho đến năm 2020 trở đi, nam đủ 55 tuổi và nữ đủ 50 tuổi thì mới đủ điều kiện hưởng lương hưu; nhóm thứ hai nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên thì nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi là được hưởng lương hưu.

+ Mở rộng điều kiện hưởng lương hưu đối với lao động nữ hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở cấp xã chỉ cần có đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội và đủ 55 tuổi. Tuy nhiên, đối tượng này không được điều chỉnh lương hưu theo mức lương cơ sở nếu mức lương hưu thấp hơn mức lương cơ sở.

+ Về tỷ lệ % hưởng lương hưu: Sửa đổi cách tính tỷ lệ hưởng lương hưu theo lộ trình tăng dần số năm đóng BHXH đối với lao động nam để được hưởng 45% mức bình quân tiền lương tháng như sau: nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi mỗi năm tăng thêm 01 năm cho đến khi 20 năm đóng BHXH tương ứng với 45% (năm 2018 là 16 năm; năm 2019 là 17 năm; năm 2020 là 18 năm; năm 2021 là 19 năm và từ năm 2022 trở đi là 20 năm); đối với nữ 15 năm đóng BHXH tương ứng với 45% và sau đó cả nam và nữ đều tính thêm 2% cho mỗi năm, mức tối đa bằng 75%; tăng tỷ lệ giảm trừ do nghỉ hưu trước tuổi từ 1% lên 2% cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi.

+ Về BHXH một lần: Sửa đổi quy định điều kiện hưởng BHXH một lần để hạn chế tối đa việc hưởng BHXH một lần nhằm đảm bảo an sinh xã hội lâu dài, cụ thể chỉ giải quyết BHXH một lần đối với người lao động khi đã hết tuổi lao động mà không đủ điều kiện hưởng lương hưu hoặc ra nước ngoài để định cư hợp pháp; bổ sung quy định giải quyết BHXH một lần đối với người mắc bệnh hiểm nghèo. Riêng đối với lực lượng vũ trang thực hiện như quy định hiện hành, được giải quyết ngay khi phục viên, xuất ngũ, nếu không đủ điều kiện để hưởng lương hưu và người lao động có nhu cầu;

Tăng mức trợ cấp BHXH một lần từ 1,5 tháng lên 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH mỗi năm đóng BHXH từ năm 2014 trở đi.

Chế độ tử tuất: theo Luật BHXH 2006, khi người lao động chết, nếu thân nhân đủ điều kiện được hưởng chế độ tiền tuất hàng tháng thì được giải quyết hưởng hàng tháng mà không được giải quyết chế độ tiền tuất một lần, trong khi tiền tuất một lần có thể cao hơn nhiều so với tiền tuất hàng tháng. Theo quy định mới, thân nhân có thể chọn hưởng chế độ tiền tuất hàng tháng hoặc tiền tuất một lần, trừ trường hợp con dưới 6 tuổi, con hoặc vợ hoặc chồng bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.

Tóm lại, Luật BHXH 2014 đã quy định cụ thể hơn và chỉnh sửa những nội dung không còn phù hợp của Luật BHXH 2006, đảm bảo tính khoa học, thực tiễn và cân đối thu chi nhằm đảm bảo cân đối quỹ trong dài hạn nhằm thực hiện chính sách an sinh xã hội của quốc gia.


2. Những điểm mới về Bảo hiểm xã hội tự nguyện


Ngày 18/02/2016, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội đã ban hành Thông tư 01/2016/TT-BLĐTBXH quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) về BHXH tự nguyện. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 04-4-2016 và các chế độ quy định sẽ được áp dụng từ ngày 01/01/2016. Trong đó có nhiều điểm mới, thuận lợi, tiện ích cho người tham gia BHXH tự nguyện cụ thể như sau:

* Phương thức đóng BHXH tự nguyện( 06 phương thức):

Người tham gia BHXH tự nguyện được chọn một trong sáu phương thức đóng gồm: đóng hằng tháng, 3 tháng một lần, 6 tháng một lần, 12 tháng một lần, đóng một lần cho nhiều năm về sau nhưng không quá 5 năm một lần, đóng một lần cho những năm còn thiếu đối với người tham gia BHXH đã đủ điều kiện về tuổi để hưởng lương hưu theo quy định nhưng thời gian đóng BHXH chưa đủ 20 năm để hưởng lương hưu.

* Đóng BHXH một lần cho những năm còn thiếu để hưởng lương hưu:

Người tham gia BHXH đã đủ điều kiện về tuổi nghỉ hưu (nam 60 tuổi, nữ 55 tuổi), nhưng thời gian đóng BHXH còn thiếu không quá 10 năm (120 tháng) được đóng một lần cho đủ 20 năm đóng BHXH để hưởng lương hưu. Thời điểm hưởng lương hưu được tính từ tháng liền kề sau tháng đóng đủ số tiền cho những năm còn thiếu. 

* Mức đóng khi tham gia BHXH tự nguyện:

Mức đóng hằng tháng bằng 22% mức thu nhập tháng do người tham gia BHXH tự nguyện lựa chọn. Thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ và cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở tại thời điểm đóng. 

 Cụ thể: từ tháng 01 năm 2016 đến tháng 12 năm 2020 mức đóng hằng tháng thấp nhất là 22% x 700 000đ = 154.000 đồng/tháng; từ tháng 01 năm 2016 mức đóng hằng tháng cao nhất là 5.060.000 đồng/tháng cho tới khi Chính phủ quy định mức lương cơ sở mới.

Mức đóng một lần cho nhiều năm về sau nhưng không quá 5 năm theo quy định được tính bằng tổng mức đóng của các tháng đóng trước và được chiết khấu theo lãi suất đầu tư quỹ BHXH bình quân tháng do BHXH Việt Nam công bố của năm trước liền kề với năm đóng.

Trường hợp đóng một lần cho những năm còn thiếu của người đã đủ tuổi hưu nhưng thời gian tham gia BHXH chưa đủ thì áp dụng lãi gộp bằng lãi suất đầu tư quỹ BHXH bình quân tháng do BHXH Việt Nam công bố của năm trước liền kề với năm đóng.

* Hoàn trả tiền đã đóng BHXH tự nguyện:

 Người tham gia BHXH tự nguyện sẽ được hoàn trả một phần số tiền đã đóng trước đó nếu thuộc một trong các trường hợp sau: chuyển tham gia BHXH bắt buộc, hưởng BHXH một lần, bị chết hoặc tòa án tuyên bố đã chết. Số tiền hoàn trả không bao gồm tiền hỗ trợ đóng của Nhà nước (nếu có).

* Nhà nước hỗ trợ tiền đóng BHXH cho người tham gia BHXH tự nguyện:

Từ  ngày 1-1-2018 Nhà nước sẽ hỗ trợ một phần tiền đóng BHXH tự nguyện cho các đối tượng sau: hỗ trợ 30% mức đóng với người thuộc diện hộ nghèo, 25% với người cận nghèo, 10% với các đối tượng khác.

Theo đó, mức hỗ trợ tiền đóng hằng tháng cho người tham gia BHXH tự nguyện trong giai đoạn 2018-2020 là: 46.200 đồng/tháng với người nghèo, 38.500 đồng/tháng với người cận nghèo và 15.400 đồng/tháng với các đối tượng khác.

*Thủ tục tham gia BHXH tự nguyện:

Người dân có thể đến các đại lý thu BHXH tự nguyện tại Bưu điện huyện, thành phố; các đại lý thu BHXH tự nguyện tại các xã phường để mua BHXH tự nguyện hoặc đến BHXH các huyện, thành phố để được hướng dẫn chi tiết.

Thủ tục gồm có: tờ khai đăng ký tham gia BHXH (đăng ký lần đầu), sổ BHXH (nếu đã từng tham gia BHXH), tờ khai thay đổi thông tin người tham gia (nếu thay đổi mức đóng, phương thức đóng).


3. Luật BHYT sửa đổi bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/2015, có những điểm mới; theo đó, quyền lợi BHYT của người dân được mở rộng Quy định bắt buộc tham gia BHYT


Một điểm mới quan trọng của Luật lần này là quy định bắt buộc tham gia BHYT. Đây là một điểm mới thể hiện quyết tâm chính trị nhằm thúc đẩy thực hiện BHYT toàn dân theo tinh thần của Hiến pháp 2013 và Nghị quyết 21 của Bộ Chính trị. Để thực hiện mục tiêu này, Luật BHYT quy định bắt buộc cùng với quy định giảm mức đóng, Nhà nước hỗ trợ ngân sách cho một số nhóm đối tượng tham gia BHYT sẽ thúc đẩy mạnh mẽ hơn quá trình mở rộng đối tượng, thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân và đảm bảo an sinh xã hội.

Bên cạnh đó, để đảm bảo tính khả thi và thúc đẩy việc thực hiện chính sách BHYT bắt buộc, Nhà nước phải tăng cường hoạt động tuyên truyền, vận động các đối tượng, bố trí nguồn lực đảm bảo, nâng cao y đức và chất lượng khám chữa bệnh, đổi mới phương thức thực hiện chính sách BHYT vừa để khuyến khích, vừa hỗ trợ người dân chủ động tham gia BHYT, nâng cao trách nhiệm an sinh đối với bản thân, gia đình mình và xã hội. Nhà nước tổ chức cho người dân có thể tiếp cận và đóng BHYT theo hộ gia đình được thuận lợi tại tất cả các địa bàn trên cả nước.

Quy định BHYT theo hộ gia đình

Điể.m mới nữa trong Luật BHYT là quy định khuyến khích tham gia BHYT theo hộ gia đình. Đây là hình thức mà các quốc gia hiện nay đang thực hiện để bao phủ, chăm sóc sức khỏe. Luật BHYT cũ đã quy định việc tham gia BHYT theo hộ gia đình nhưng chưa quy định bắt buộc 100% thành viên phải tham gia, nên tính tuân thủ chưa cao, chỉ có người ốm mới tham gia BHYT, tạo nên tình trạng lựa chọn ngược.

Để khắc phục tình trạng cấp trùng thẻ BHYT, Luật quy định một số đối tượng tham gia BHYT theo hộ gia đình và quy trách nhiệm của UBND cấp xã lập danh sách các đối tượng tham gia BHYT theo hộ gia đình thay cho quy định các cơ quan, tổ chức, đơn vị lập danh sách tham gia BHYT của các đối tượng theo hình thức cá nhân.

Quy định tham gia BHYT theo hộ gia đình là một cách rất hiệu quả để tăng mức độ bao phủ BHYT, người dân được hưởng BHYT với những lợi ích rất rõ ràng. Cụ thể, khi tham gia BHYT theo hộ gia đình, người tham gia sẽ được giảm dần mức đóng từ thành viên thứ 2 trở đi. Người thứ 2, 3 trở đi đóng lần lượt bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ nhất. Từ người thứ 5 trở đi mức đóng bằng 40% của người thứ nhất, đảm bảo sự chia sẻ ngay trong hộ gia đình. Việc tham gia theo hộ gia đình còn giúp các cơ quan quản lý thực hiện việc đăng ký, quản lý các nhóm đối tượng thống nhất, không bỏ sót và tránh được cấp trùng thẻ BHYT.

Bổ sung đối tượng tham gia BHYT

Để đảm bảo sự bình đẳng giữa các đối tượng trước pháp luật và thống nhất việc quản lý, tổ chức thực hiện chính sách BHYT trong hệ thống, Luật đã huy động thêm lực lượng công an, quân đội phải tham gia BHYT và Chính phủ quy định lộ trình tham gia BHYT phù hợp với đặc thù của lực lượng này. Cùng đó, Luật cũng bổ sung thêm đối tượng đang sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn được ngân sách nhà nước mua thẻ BHYT.

Về BHYT đối với trẻ em dưới 6 tuổi

Với trẻ dưới 6 tuổi, Luật quy định trẻ dưới 6 tuổi được quỹ BHYT chi trả cho điều trị lác, cận thị, tật khúc xạ của mắt. Trong trường hợp trẻ đủ 72 tháng chưa đến kỳ nhập học thì thẻ BHYT sẽ có giá trị đến ngày 31/9 của năm đó, tạo điều kiện cho trẻ được chăm sóc sức khỏe đến khi thẻ hết hạn. Luật cũng bổ sung trách nhiệm của UBND xã phải lập danh sách đề nghị cấp thẻ BHYT đồng thời với việc cấp giấy khai sinh cho trẻ. Đây là những quy định nhằm tháo gỡ những vướng mắc của Luật cũ liên quan đến thực hiện BHYT của trẻ dưới 6 tuổi và đảm bảo quyền lợi tối đa cho trẻ.

Tăng quyền lợi BHYT và mức hưởng BHYT

Đây là quy định nhằm giảm gánh nặng chi phí khám chữa bệnh, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế với một số đối tượng như: người có công, người nghèo, người dân tộc thiểu số, người thuộc diện bảo trợ xã hội,... nhất là với những người mắc bệnh nặng, bệnh mạn tính (chạy thận nhân tạo chu kỳ, ung thư, bệnh nội tiết...) do không có khả năng chi trả cũng như tính phức tạp trong việc tổ chức thực hiện. Luật sửa đổi quan tâm nhiều đến quyền lợi của người tham gia BHYT như: bỏ quy định cùng chi trả 5% với người nghèo, dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; Bỏ quy định cùng chi trả 20% với thân nhân người có công là cha mẹ đẻ, hoặc vợ/chồng, con của liệt sĩ, người có công nuôi dưỡng liệt sĩ; giảm mức cùng chi trả từ 20% xuống còn 5% với thân nhân của người có công khác và người cận nghèo.

Luật lần này cũng quy định: Quỹ BHYT thanh toán 100% chi phí khám chữa bệnh khi người bệnh có thời gian tham gia BHYT từ 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở, trừ trường hợp tự đi khám chữa bệnh (tương đương với khoảng 7 triệu đồng). Đây là quy định hết sức mới để bảo vệ, hỗ trợ người bệnh trước rủi ro tài chính. Luật còn bổ sung quy định Quỹ BHYT thanh toán trong các trường hợp tự tử, tự gây thương tích, tai nạn giao thông, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Mở thông tuyến khám chữa bệnh BHYT

Đây là quy định hết sức quan trọng tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người tham gia BHYT trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế. Cụ thể, từ 1/1/2016 mở thông tuyến giữa xã, huyện trên cùng địa bàn tỉnh cho người tham gia BHYT. Với người thuộc hộ gia đình nghèo, người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng khó khăn, đặc biệt, huyện đảo, xã đảo có cơ chế được mở thông tuyến khám chữa bệnh từ xã, huyện, tỉnh lên Trung ương trên phạm vi cả nước. Từ 1/1/2021 mở thông tuyến tỉnh trên toàn quốc và nâng mức hưởng đối với người tham gia BHYT tự đi điều trị nội trú tại tuyến tỉnh và Trung ương.

Từ 1/1/2015, trường hợp tự đi khám chữa bệnh tại bệnh viện tuyến huyện sẽ được Quỹ BHYT chi trả 70% chi phí khám chữa bệnh và đến năm 2016, sẽ được chi trả 100% chi phí khám chữa bệnh trong cùng địa bàn tỉnh; tại bệnh viện tuyến tỉnh, từ 1/1/2015, Quỹ BHYT chi trả 60% chi phí điều trị nội trú và đến 1/1/2021 là 100%; tại bệnh viện tuyến Trung ương là 40% chi phí điều trị nội trú.

Trên đây là những điểm mới cơ bản của Luật Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm xã hội tự nguyện, Luật Bảo hiểm y tế ./.

Ban Tuyên giáo (tổng hợp)

Lần xem: 52  Quay lại!

CÁC TIN KHÁC
Giám sát tàu cá bằng công nghệ vệ tinh (8/4/2019)
Một số điểm mới cơ bản của Nghị định 116/2018/NĐ-CP (28/2/2019)
Những điểm mới về chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thực hiện từ năm 2019 (15/2/2019)
Quy định mới về mức đóng bảo hiểm y tế (25/10/2018)
Nhà nông không nên sử dụng chất Cysteamine trong chăn nuôi (23/10/2018)
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 6/2018 (4/6/2018)
Quy định mới về thu tiền sử dụng đất (15/3/2018)
Nông dân có nguyện vọng được tham gia BHXH tự nguyện (16/1/2018)
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 01/2018 (8/1/2018)
Tóm tắt những điểm mới có lợi cho người lao động trong Luật Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm xã hội tự nguyện, Bảo hiểm y tế (2/11/2017)
Quảng Trị: Cần "cả hệ thống chính trị" kiểm soát thuốc BVTV (9/8/2017)
Tăng trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã nghỉ việc (3/8/2017)
Những thay đổi về chính sách bảo hiểm từ tháng 6/2017 (6/6/2017)
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 6/2017 (5/6/2017)
Lao động có quyền từ chối công việc không đảm bảo an toàn (17/5/2017)
Phát hiện, xử lý trên 61 vụ kinh doanh hàng nhập lậu, hàng không rõ nguồn gốc (16/2/2017)
Nỗi lo tội phạm trên Facebook (10/2/2017)
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 2/2017 (6/2/2017)
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 1/2017 (13/1/2017)
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 12/2016 (28/12/2016)
Miễn thuế đất nông nghiệp đến hết 2020 (15/11/2016)
Tiếp tục mở rộng đối tượng được miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp (19/9/2016)
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 8/2016 (9/8/2016)
Hướng dẫn thực hiện mức lương mới (21/6/2016)
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 6/2016 (3/6/2016)
Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định xử phạt VPHC về nông nghiệp (5/5/2016)
Quy định mới về máy móc được hưởng hỗ trợ giảm tổn thất trong nông nghiệp (3/3/2016)
NHỮNG ĐIỂM MỚI NỔI BẬT CỦA LUẬT BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN (27/1/2016)
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 1/2016 (6/1/2016)
10 Luật có hiệu lực từ 1/1/2016 (28/12/2015)

Thống kê truy cập

0289322



Copyright 2019 by ICTQT.VN
sỉ sập sàn sisapsan si sap san bo si dam vay bo si bỏ sỉ đầm váy bỏ sỉ chuyen si dam vay chuyên sỉ đầm váy sỉ sập sàn sisapsan si sap san bo si dam vay bo si bỏ sỉ đầm váy bỏ sỉ chuyen si dam vay chuyên sỉ đầm váy